2 bài văn phân tích bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng)

Tây Tiến là một tác phẩm độc đáo, in trong tập Mây đầu ô, hơn nữa Tây Tiến được sáng tác khi Quang Dũng ngồi tại Phù Lưu Chanh và phải chia tay đoàn quân Tây Tiến của mình và do chính anh làm tiểu đội trưởng.
Quang Dũng là một chàng trai xứ Đoài đa tài và là một hồn thơ tinh tế, lãng mạn và tài hoa. Quang Dũng – người nghệ sĩ đa tình cũng rất mực đa tài cũng để trái tim viết về những người đồng chí, đồng đội qua bài thơ “Tây Tiến”.

Bài 1: Cảm nhận của người viết về vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc qua đoạn thơ thứ 2 trong bài Tây Tiến

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây sóng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai pha luông mưa xa khơi”

trích trong Tây Tiến – Quang Dũng

Từ đó chúng ta có thể liên hệ với khổ thơ sau trong bài thơ Tràng Giang (Huy Cận):

“ Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu”

trích trong Tràng Giang – Huy Cận

Để làm rõ quan niệm thi trung hữu họa được thể hiện trong hai đoạn thơ của hai tác giả.

Quang Dũng là một chàng trai xứ Đoài đa tài và là một hồn thơ tinh tế, lãng mạn và tài hoa. Quang Dũng – người nghệ sĩ đa tình cũng rất mực đa tài cũng để trái tim viết về những người đồng chí, đồng đội qua bài thơ “Tây Tiến”. Đoạn thơ thứ 2 của bài thơ Tây Tiến với thiên nhiên hoang sơ mà hùng vĩ đồng thời lại rất thơ mộng hữu tình. Vẻ đẹp đó của thiên nhiên Tây Bắc gợi liên tưởng đến vẻ đẹp của bức tranh thơ trong đoạn hai của bài Tràng Giang.

vẻ đẹp thiên nhiên tây bắc qua bài thơ Tây Tiến  - 2 bài văn phân tích bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng)
Đoàn binh Tây Tiến – Quang Dũng

Hai đoạn thơ trên rất giàu giá trị tạo hình và nó là hai bức tranh thơ thể hiện sự độc đáo của thơ ca với nét đặc sắc thi trung hữu họa. Thiên nhiên Tây Bắc trong bài thơ Tây Tiến trong 4 câu thơ của tác phẩm Tây Bắc là một bức tranh thiên nhiên đẹp hùng vĩ mà nên thơ, một bức tranh giàu giá trị tạo hình. Bức tranh thiên nhiên đó được vẽ lên từ nỗi nhớ da diết của chàng trai Tây Tiến về khung cảnh của một miền quê nơi các anh đã đi qua: “ Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”.

Câu thơ mở ra không gian đặc trưng của địa hình miền Tây với độ cao hun hút và độ sâu thăm thẳm, đặc điểm không gian đó được Quang Dũng vẽ lên thông qua sử dụng điệp từ “dốc” với cách ngắt nhịp 4-3 mỗi vế được bắt đầu bằng từ “ dốc” rất đanh sắc gợi ra những con dốc đang nối tiếp nhau dựng đứng dần lên. Bên cạnh đó từ láy khúc khuỷu vừa gợi lên được cái thế ngập nghềnh, quanh co của núi đèo đang giăng ra, vừa gợi ra được cái độ cao khủng khiếp của dốc là khắc họa được chiều sâu hun hút khi nhìn từ đỉnh dốc xuống. Câu thơ 7 tiếng thì sử dụng 5 tiếng thanh trắc rất gắt gợi lên cái gồ ghề trắc trở của cảnh. Chỉ bằng một câu thơ nhưng với ngòi bút giàu chất họa của Quang Dũng khiến khung cảnh thiên nhiên miền Tây trở hiện ra thật trùng điệp, hùng vĩ, núi non của miền Tây Tổ Quốc giăng mắc ngút ngàn.

Câu thơ thứ hai với hình ảnh “heo hút cồn mây súng ngửi trời” thơ không cần nói đến đỉnh núi mà vẫn gợi ra những đỉnh núi cao sừng sững, cao ngút ngàn và còn gợi ra được tư thế của người đứng trên đỉnh núi với câu thơ này không gian được mở ra theo điểm nhìn từ trên cao xuống, ở trên cao những ngọn núi như chọc thủng những tầng mây vươn lên đến đỉnh trời, người lính hành quân lên đến đỉnh núi súng như chạm đến đỉnh trời và những đám mây trắng đậm tạo thành cồn trên những đám mây trên đỉnh núi. Từ heo hút kết hợp với cồn tao ra độ cao hút tầm của thiên nhiên núi rừng nơi mảnh đất miền Tây Tổ Quốc.

Đặc sắc hơn cả là câu trong câu thơ tác gải đã sử dụng hình ảnh nhân hóa với cách dùng từ rất bạo và lạ, cách liên tưởng thú vị đến độc đáo “súng ngửi trời” hình ảnh này vừa giúp người đọc hình dung ra độ cao của địa hình vừa khắc họa được tinh thần trẻ trung, lạc quan hóm hình của người lính Tây Tiến. Đồng thời còn tạc lên sự hiên ngang và tầm vóc của người lính giữa núi non và thiên nhiên đất nước mình. Người lính Tây Tiến chấn dữ thiên nhiên dân tộc trong tư thế làm chủ thiên nhiên và thiên nhiên hùng vĩ của mảnh đất Tây Bắc Tổ Quốc đang nâng tầm cho người lính. Câu thơ này của Quang Dũng quả thật vừa có hình, vừa có hồn lại gợi tả rất rõ nét, sâu sắc về cái thần, cái hồn của cảnh.

Vẫn là để trạm khắc độ cao hùng vĩ hoang sơ đến nguy hiểm của thiên nhiên Tây Bắc, câu thơ thứ 3 được tác giả viết: “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” trong câu thơ này nhà thơ muốn tô đậm sự ngập nghềnh hiểm trở của thiên nhiên, nó không còn là những con dốc bình thường nữa. Trong câu thơ này nó là những ngọn núi cao chót vót và đổ xuống sâu hun hút. Để truyền tải hết độ cao và sâu trong câu thơ, tác giả sử dụng nghệ thuật điệp “ngàn thước” kết hợp với thủ pháp đối lập (lên, xuống) cùng với cách ngắt nhịp 4-3.

Với từng đó yếu tố nghệ thuật đã tạo lên âm điệu cho câu thơ. Âm điệu dựng thành dốc, khoét thành vực, vế trong câu thơ này như bẻ làm đôi tạo thành 2 vách núi dựng đứng với độ cao hun hút đổ xuống như thẳng đứng. Đó là độ dốc chết người được thể hiện trong câu thơ đầu khí lực, cái tài của Quang Dũng khiến người đọc phải cúi đầu kính nể, đồng thời lại thấy chóng ngợp trước vẻ đẹp hùng vĩ hoành tráng của thiên nhiên núi rừng miền Tây trong tứ thơ của chàng trai xứ Đoài này. Đoạn thơ kết thúc bằng bức tranh thủy mặc thật đẹp “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Một ngôi nhà ai đó đang bồng bềnh trôi trên biển hơi, biển xương, nếu 3 câu thơ trên nhà thơ sử dụng nhiều thanh trắc rất gắt như những nét vẽ gân guốc tạo nên bức tranh thiên nhiên với địa thế hiểm trở ngập nghềnh thì đến câu thơ thứ 4 này, tác giả lại sử dụng một chuỗi những thanh bằng như những nét vẽ mềm mại để gợi về một miền không gian với thiên nhiên nên thơ, trữ tình, ngôi nhà ai đó ở Pha Luông đang leo đậu ở lưng chừng núi khi phóng tầm mắt nhìn ra cả một một thung lũng Pha Luông đẹp mê hoặc có thể nói nếu 3 câu thơ đầu là những gam màu nóng thì đến câu thơ này là một gam màu mát xoa dịu cả tứ thơ, điều đó giúp người đọc nhận ra nhà thơ Quang Dũng đã sử dụng bút pháp tả thực xen lẫn với lãng mạn để phác họa ra một bức tranh thiên nhiên đẹp đa dạng của xứ Tây Bắc đó thực sự là một khung cảnh thiên nhiên hoang sơ đến hiểm trở xong lại có phần nên thơ trữ tình.

Vẻ đẹp như trên của bức tranh thiên nhiên Tây Bắc dễ khiên người đọc hình dung về bức tranh thơ trong khổ thơ thứ 2 của của Tràng Giang ở cả 2 đoạn thơ người đọc đều cảm nhận được rõ đó là những bức tranh được vẽ nghệ thuật ngôn từ. Quan niệm thi trung hữu họa – trong thơ có tranh, trong thơ có cảnh đây là khái niệm thể hiện đặc trưng giàu hình ảnh của thơ ca. Ở đây người nghệ sĩ dùng nghệ thuật để vẽ lên gợi ra trong liên tưởng, tưởng tượng người đọc những hình ảnh đường nét, hình khối, hình khối, màu sắc của một bức tranh và bức tranh đó là cụ thể hóa hữu hình hóa cảm xúc của nhà thơ. Các tác giả ở cả 2 đoạn thơ trên đều đưa đến cho người đọc những bức tranh thiên nhiên rất kì thú về cảnh núi non Tây Bắc và sông nước Hà Thành.

Ở trong đoạn thơ của Huy Cận nhà thơ đưa đến cho người đọc một bức tranh thiên nhiên với những cồn nhỏ, trơ vơ, hoang vắng, đìu hiu, trong một không gian vắng lặng, vô tịch, không gian đó đem lại cho con người cảm giác buồn, cô đơn, trống vắng, hai câu thơ sau với sự sáng tạo độc đáo trong cách dùng từ, nhà thơ Huy Cận đã khiến bức tranh thiên nhiên mở ra cao, rộng, dài và sâu:

“Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu”

Câu thơ vẽ ra cho người đọc ấn tượng về độ cao hun hút sâu thăm thẳm diễn tả được thiên địa vô cùng vô tận, vô thủy vô chung của vũ trụ hoang vắng cô liêu. Nguồn cảm hứng của mỗi tác giả trong 2 bài thơ trên là khác nhau. Với Tây Tiến là miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên núi rừng Tây Bắc hùng vĩ còn Tràng Giang là miêu tả không gian bao la, cô quạnh đến rợm ngợp của sông Hồng vào buổi chiều thu. Tuy nhiên nếu xét ở góc độ thi trung hữu họa thì 2 đoạn thơ trên có nhiều điểm tưởng đồng. Ở đó cả 2 tác giả đều sử dụng chất liệu ngôn từ để phác họa ra, bức tranh thiên nhiên phù hợp với cảm hứng của mình.

Với Tây Tiến, Quang Dũng đã sử dụng những ngôn từ rất tạo hình với tần số cao từ láy tượng hình, cùng nghệ thuật đối lập trên dưới, cao thấp, nghệ thuật điệp từ, nhân hóa, ngắt nhịp 4-3 để dựng thành dốc, khoét thành vực, điều đó đã khiến bức tranh thiên nhiên thủy mặc đã đắc địa với bố cục đường nét hình khối rõ ràng, từ thấp lên cao, từ gần đến xa trong không gian thiên nhiên Tây Bắc, những dãy núi trùng trùng điệp điệp hiện ra, hết ngọn núi này đến ngọn núi khác vươn dần lên trời xanh, những con dốc ngoằn ngoèo khúc khuỷu lượn rồng rắn quanh mép núi.

Quang Dũng còn sử dụng thanh điệu rất độc và lạ trong 4 câu thơ: 3 câu đầu là thanh trắc rất ngắn để vẽ lên sự ngập nghềnh chông chênh trắc trở của địa hình sông nước, đến câu thơ thứ 4 là thanh bằng mở ra một thung lũng rất đẹp, Quang Dũng đã sử dụng những gam màu trắng, sáng, xanh nhưng trong đó trắng và xám là chủ đạo vì vậy khiến cho khung cảnh thiên nhiên hiện ra đẹp như một bức tranh thủy mặc có chiều sâu. Bức tranh thủy mặc đó khiến cho một lần nữa người đọc ý thức rõ dấu ấn hội họa đậm nét trong thơ Quang Dũng.

2 bài văn phân tích bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng) 2 bai van phan tich bai tho Tay Tien Quang Dung4
chân dung nhà thơ Quang Dũng

Đến với Tràng Giang đoạn thơ là tả cảnh ngụ tình – bút pháp miêu tả của đoạn thơ trước hết là mượn từ hội họa, nghệ thuật hội họa như chúng ta đã biết là nghệ thuật của không gian màu sắc hình khối trong đoạn thơ này của Huy Cận đã chiếm lĩnh cả không gian , màu sắc, hình khối bằng hệ thống từ láy giàu tính tượng hình đã khiến cho cảnh sông nước hiện ra với những cồn nhỏ hiu quạnh, trơ trọi, hoang vu, điểm nhìn nghệ thuật của bài thơ và đoạn thơ theo quy lật viễn cận xa – gần, cao – thấp, từ ngoại cảnh – đến tâm cảnh,… là những cồn nhỏ rồi cả bầu trời và sắc nắng trên sông, khả năng quan sát ở đây của Huy Cận thật kỳ lạ, trời không cao mà sâu, ánh nắng đổ xuống đầy bầu trời lên cao rộng hơn, từ “sâu” kết hợp với từ “ chót vót” cùng với nghệ thuật đối: lên – xuống, dài – rộng, đã khiến không gian trở nên thoáng đãng, rộng lớn vô cùng, những vạt nắng vàng từ trên cao lao xuống trên nền của bầu trời xanh mênh mông, phản chiếu xuống sắc nước của dòng sông.

Thiên nhiên biết phối màu thật tinh tế đã khiến cho vũ trụ trở nên bao la hơn, vô cùng, vô tận, vô thủy, vô chung. Tứ thơ của tác giả đã lương theo cái vô cùng để gieo nỗi niềm nhân thế.

Bài 2: Hình tượng người lính trong đoạn 3 tác phẩm Tây Tiến

Phân tích hình tượng người lính trong đoạn 3 của tác phẩm Tây Tiến, từ đó liên hệ đến hình tượng người lính trong tác phầm Văn Tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Quang Dũng là nhà thơ lãng mạn, phóng khoáng và tài hoa, không những vậy Quang Dũng còn là một đại đội trưởng của đoàn quân Tây Tiến, đoàn quân gồm phần lớn là học sinh, sinh viên Hà Thành, phối hợp với quân đội Lào kháng chiến chống Pháp.

Khi chia tay đoàn quân Tây Tiến, ngồi tại Phù Lưu Chanh, Quang Dũng đã sáng tác Tây Tiến. Trong bài thơ ở đoạn 3 tác giả đac chạm khắc 1 bức tranh bi tráng về người lính Tây Tiến. Hình ảnh này khiến người đọc nhớ đến hình ảnh các nghĩa sĩ Cần Giuộc – là những hình tượng mang đậm nội dung yêu nước.

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

Hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ là một bức tượng đài tập thể bất tử về người lính Tây Tiến. Một bức tượng đài được tác giả chạm khắc tinh tế cả diện mạo, tâm hồn, lí tưởng và cả vẻ bất khuất sự hy sinh. Điều này khiến hình tượng các anh ánh lên vẻ bi tráng. Hình ảnh các chàng trai Tây Tiến hiện lên với nét vẽ thô ráp tiều tụy: “không mọc tóc quân xanh màu lá” điều kiện sống chiến đấu thiếu thốn, khắc nghiệt cùng với sốt rét, ngã nước khiến các anh xanh xao tiều tụy.

2 bài văn phân tích bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng) 2 bai van phan tich bai tho Tay Tien Quang Dung3

Tuy nhiên tinh thần chiến đấu rất mãnh liệt, sục sôi, điều này khiến các anh trở nên oai phong lẫm liệt, ngang tàng mang oai linh của chúa Sơn Lâm khiến kẻ thù khiếp sợ. Lính Tây Tiến đa phần là học sinh sinh viên Hà Thành, những chàng trai trẻ vào trận với tâm hồn lãng mạn, hào hoa. Vì vậy phải sống chiến đấu trong điều kiện khắc nghiệt nhưng học vẫn có những giấc mơ dịu êm, vẫn có những mong ước thật đẹp về người đẹp Hà Thành. Những giấc mơ đó đã làm hình bóng các anh giống các tráng sĩ xưa.

Dù còn rất trẻ nhưng lính Tây Tiến đã chói ngời lí tưởng cao đẹp. Các anh cháy bỏng khát vọng giải phóng quê hương. Vì khát vọng cao đẹp mà các anh sẵn sàng xả thân, dâng hiến tuổi trẻ và thậm chí cả sự sống của mình cho Tổ Quốc. Vì lí tưởng và khát vọng cao đẹp mà các anh coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.
Lính Tây Tiến nhiều “người phải hi sinh”, Quang Dũng đã không hề né tránh hiện thực khắc nghiệt, dữ dội. Các anh hy sinh và thân xác được liệm trong những manh chiếu.

Nhưng với ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng, những tấm chiếu đã thành những tấm áo bào sang trọng để gói thân xác các anh về với đất mẹ. Vì thế câu thơ nói về cái chết nhưng không hề bi lụy mà ngược lại gợi không khí trang trọng và tinh thần lạc quan cách mạng của người lính. Thêm vào đó là việc sự dụng từ Hán Việt kết hợp với cách nói giảm nói tránh “anh về đất” đã làm mờ nhạt đi phần bi thương của cái chết mà lại ngợi lên sự hùng tráng , ý chí bất khuất của người lính Tây Tiến.

Hơn nữa người lính Tây Tiến hi sinh vì lí tưởng cao đẹp giải phóng cho quê hương đất nước. Và khi các anh hi sinh cả thiên nhiên, quê hương đất nước khóc tiễn đưa các anh chính vì về thế lên hình tượng các anh ánh lên vẻ đẹp bi tráng. Bằng nghệ thuật nói giảm nói tránh, đối lập các dùng từ Hán Việt và bút pháp làm chen lẫn màu sắc hiện thực, Quang Dũng đã chạm khắc rất thành công hình tượng người lính cụ Hồ trong buổi đầu giải phóng đất nước.

Hình tượng lính Tây Tiến trong đoạn trên dễ khiến người đọc liên hệ với người nghĩa sĩ Cần Giuộc và thấy được văn học Việt Nam luôn có sự kế thừa và đổi mới tích cực về nội dung yêu nước. Nghĩa sĩ Cần Giuộc là những người nông dân nghèo khổ, sống trong điều kiện kinh tế nghèo nàn lạc hậu ở thế kỉ 19 của Việt Nam. Họ là những con người nhỏ bé, lam lũ. Nhưng khi có giặc ngoại xâm họ căm thù giặc sâu sắc và thể hiện tình yêu nước cháy bỏng của mình. Họ ý thức được chủ quyền dân tộc, vận mệnh của Tổ Quốc và trách nhiệm của bản thân và họ tự nguyện đứng lên đánh giặc. Họ vào trận anh dũng chưa hề được tập luyện, không được trang bị mà vào trận bằng vũ khí thô sơ là dụng cụ lao động thường ngày. Họ đã chiến đấu rất anh dũng trong tư thế đạp trên đầu quân thù sốc tới và chiếm được đồn giặc.

Nhưng rồi kẻ thù quá mạnh các nghĩa sĩ đã hi sinh khi sự nghiệp chưa thành. Tuy vậy họ đã để lại lý tưởng sống cao đẹp trong sự tiếc thương và cảm phục của cả dân tộc. Và cũng như hình tượng người lính Tây Tiến. Các nghĩa sĩ Cần Giuộc ánh lên vẻ đẹp bi tráng hào hùng của những người hi sinh cho Tổ Quốc.
Cả người lính Tây Tiến và nghĩa sĩ Cần Giuộc đều là những anh hùng sử thi, chiến đấu và hi sinh cho cộng đồng. Ca ngợi họ, cả Nguyễn Đình Chiểu và Quang Dũng đều thể hiện tình yêu nước tha thiết của mình. Và cả lính Tây Tiến, cùng hình tượng người nghĩa sĩ đều mang vẻ đẹp bi tráng. Nhưng những người lính Tây Tiến còn toát lên từ sự hào hoa luôn cảm thấy trẻ trung, dí dỏm của các chàng trai tri thức Hà Thành. Còn nghĩa sĩ Cần Giuộc vẻ đẹp lại bi tráng có được từ sự mộc mạc giản dị của người nông dân nghèo khó, bộc trực.

Cả tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc và tác phẩm Tây Tiến đều là những tác phẩm có nội dung yêu nước sâu sắc, kế thừa nội dung yêu nước của văn hóa dân tộc và xét trên 2 tác phẩm. Tây Tiến là sáng tác sau 1945, còn Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc sáng tác năm 1861 và ở Tây Tiến có sự kế thừa nội dung yêu nước của Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Điều này thể hiện ở chỗ cả 2 tác phẩm đều thể hiện yêu nước là yêu quê hương, là căm thù giặc, là ý thức trách nhiệm của mình trước vận mệnh của Tổ Quốc, là thể hiện tinh thần quyết tâm đánh giặc, cũng như ca ngợi những gương anh hùng xả thân vì dân tộc. Và giọng điệu yêu nước được thể hiện vừa tự hào, ngợi ca, vừa xót thương, tiếc nuối, vừa anh hùng ca, vừa bi tráng.

2 tác phẩm văn học ở 2 thời đại văn hóa và sự đổi mới trong nội dung yêu nước là rõ nét. Ở Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, yêu nước gắn liền với trung quân ái quốc của văn học trung đại

“Sống thờ vua, thác cũng thờ vua”
“Tấc đất ngọn rau ân chúa..”

Còn ở Tây Tiến yêu nước mang tinh thần thời đại mới yêu nước gắn với niềm tự hào dân tộc, chiến đấu chống kẻ thù là vì người thân yêu của mình, vì nhân dân mình, vì cuộc sống của mình.

“Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Hơn nữa hình tình đất nước được nói đến trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là hình tượng kì vĩ, thiêng liêng, trìu tượng, lớn lao

“Một mối xa thư đồ sộ…
Hai vầng nhật nguyệt chói lòa ….”

Còn ở văn học hiện đại với tác phẩm Tây Tiến, đất nước được nói đến thật gần gũi, thân quen. Nó là con sông Mã, là rừng núi thiên nhiên dân tộc, là những con người thân yêu, yêu nước xuất phát từ tình yêu lứa đôi, yêu gia đình
Sự kế thừa và đổi mới trên là do quy luật vận động của văn học. Nó khiến văn học gắn bó với đời sống tinh thần của dân tộc và bồi dưỡng tình cảm yêu nước của con người.

Nếu các bạn muốn biết thêm nhiều tác phẩm văn học hay hơn nữa có thể truy Bạn đọc – Topmeta để có cho mình thêm nhiều gợi ý nhé!

Bạn thấy bài này thế nào?

Topmeta.vn
Logo