3 bài văn phân tích 3 đoạn thơ của bài thơ Việt Bắc

Việt Bắc có thể coi là một trong những bài thơ mà khi độc giả nhắc đến Tố Hữu là nhắc đến Việt Bắc. Vậy hãy cùng Topmeta.vn tìm hiểu xem tại sao bài thơ Việt Bắc lại gắn liền với Tố Hữu như vậy nhé!

Bài 1: Phân tích 8 câu thơ đầu của bài thơ Việt Bắc

Có thể nói, nhà thơ Tố Hữu là một trong những nhà thơ trữ tình chính trị tiêu biểu cho dòng thơ ca cách mạng Việt Nam. Trong thơ ông, chứa đựng những tình cảm lớn lao và lẽ sống lý tưởng của những con người Cách mạng. Đặc biệt bài “Việt Bắc” là một trong những tác phẩm ghi dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả mọi thế hệ người Việt Nam. Phân tích 8 câu thơ đầu bài Việt Bắc, các bạn sẽ cảm nhận được tình cảm sâu đậm tình quân dân trong những năm kháng chiến chống Pháp. Bài thơ ra đời khi các cán bộ chiến sĩ tạm biệt bà con chiến khu Việt Bắc để về xuôi sau 15 năm gắn bó. Đoạn thơ đầu, tác giả đã thể hiện một cách sâu sắc và tinh tế cảm xúc của cả người ở lẫn người đi trong những giờ phút phân li:

“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Khi phân tích 8 câu thơ đầu bài Việt Bắc, các độc giả vô cùng ấn tượng với cách xưng hô thú vị của người đi và kẻ ở mà tác giả nói trong bài. Đó là “mình” và “ta”. Đặc biệt tần suất xuất hiện của hai từ này được lặp lại rất nhiều ngay trong 4 câu thơ đầu:

“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

Mở đầu đoạn thơ là một câu hỏi tu từ. Câu hỏi không phải để hỏi cho ra đáp án mà chỉ là câu hỏi không cần lời đáp nhưng cả hai bên đều ngầm hiểu ý nghĩa cũng như câu trả lời. “Mình về mình có nhớ ta”- câu hỏi nghe tưởng là bâng quơ nhưng thực ra lại ẩn chứa nhiều cảm xúc xốn xang của người ở lại. Tiếp đến, người ở lại mà ở đây chính là đồng bào Việt Bắc đã khơi gợi lại kỷ niệm một giai đoạn 15 năm với biết bao ân tình “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”. 15 năm không phải cả đời người nhưng nó đã gần như đưa con người ta đi qua một quãng đời đáng nhớ và không hề ngắn. Đặc biệt thời gian ấy lại rơi vào hoàn cảnh chiến tranh, trong sự sống còn, trước sự vào sinh ra tử. Bởi thế tình người càng trân quý biết bao.

Việt Bắc - Tố Hữu - 3 bài văn phân tích 3 đoạn thơ của bài thơ Việt Bắc
Việt Bắc – Tố Hữu

Không chỉ gợi lại thời gian bên nhau đằng đẵng với bao mặn nồng mà người ở lại còn nhắc tới cho người đi hình ảnh không gian với rừng cây, núi đồi. Nơi mà cả hai đã có những tháng ngày không thể nào quên: “Mình về mình có nhớ không/ Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”. Tiếp tục lại là một câu hỏi tu từ không lời đáp nhưng chan chứa bao ân tình, khiến người đọc cảm thấy cả tiếng nức nở, nỗi thổn thức nhớ nhung của người ở lại. Đại từ xưng hô mình- ta thường bắt gặp trong những câu ca dao được tác giả vận dụng vào đây thật phù hợp. Giúp người đọc cảm nhận sâu sắc sự giản dị, gần gũi gắn bó tình cảm của quân và dân thời bấy giờ. Điệp từ “nhớ” càng thể hiện rõ rệt nỗi nhớ da diết, sâu nặng của đồng bào Việt Bắc dành cho chiến sĩ Cách mạng.

Nếu 4 câu đầu là tâm tư tình cảm của người đồng bào miền ngược thì 4 câu thơ sau lại chính là tiếng lòng của các chiến sĩ miền xuôi.

“Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Sau bao năm chung sống trên mảnh đất Việt Bắc, sống trong tình quân dân thắm thiết ấy, giờ đây những người lính ấy phải ra đi. Mảnh đất gắn bó như thế bây giờ cũng phải chia tay . Cặp xưng hô “mình-ta” thể hiện sự gần gũi, thân thiết của cán bộ, cá nhân như các thành viên trong gia đình mình vậy. Bốn câu đầu bài là lời của những người ở Việt Bắc bâng khuâng hỏi người lính có còn nhớ mười lăm năm thiết tha mãnh liệt ấy không. Không biết rằng những người chiến sĩ về có còn nhớ không, nhớ con người, nhớ núi rừng nơi đây. Trong lòng người chiến sĩ ấy cũng lưu luyến những kỉ niệm nơi đây không khác gì so với người dân.Lòng người bồi hồi không muốn đi xa. Dân gian ta vẫn từng có câu nằm lòng:

“ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

.Có thể nói, những lời này đã phần nào nói lên nỗi niềm trong lòng người lính. Nghệ thuật hoán dụ trong hình ảnh “chiếc áo chàm” ám chỉ người dân Việt Bắc bịn rịn trong màu áo ấy đưa tiễn các chiến sĩ về với thủ đô. Tác giả sử dụng hai đại từ xưng hô “ta” và “mình” vô cùng khéo léo. Nó đã thể hiện sự gắn bó khăng khít, son sắt và chung thủy của cán bộ và nhân dân. Ở đây, Tố Hữu đưa ra quãng thời gian cụ thể là “mười lăm năm ấy”. Đó là quãng thời gian rất dài, gắn liền với cuộc đấu tranh ác liệt của quân và nhân dân ta với thực dân Pháp tàn bạo. Đó cũng chính là quãng thời gian mà tình cảm giữa quân và dân vô cùng tha thiết, mặn nồng. Giờ đây, cả người ra đi và người ở lại tràn ngập nỗi nhớ thương, nhìn đâu đâu cũng thấy bóng dáng của những điều xưa cũ, còn vẹn nguyên và tinh khôi ở trong lòng. Tố Hữu dường như đã gieo vào lòng người đọc cái cảm giác vấn vương một cách lạ lùng. Lúc này đây chính tâm trạng của người ra đi và người ở lại đều không thể lý giải được là tại sao lại như vậy. Phải chăng tình yêu đã quá lớn và kỉ niệm đã quá đầy để có thể quay mặt bước đi. Suốt 15 năm sống và gắn bó với mảnh đất nơi đây, đồng đội và đồng bào đã phải trải qua bao nhiêu cay đắng, ngọt bùi, san sẻ cho nhau từng bữa cơm giấc ngủ. Những năm tháng gian khổ ấy đâu chỉ kể với nhau trong vài câu chữ như thế này, nhưng chính câu chữ đã khiến cho cảm xúc tràn ra, không thể thôi nhớ và thôi mong.

Có thể nói, chỉ có Tố Hữu, nhà thơ làm Cách mạng mới đủ nhạy cảm, đủ yêu thương và lý trí để sáng tác nên áng thơ bất hủ như vậy. Bởi hơn ai hết, ông là một người trong cuộc. Ông cảm nhận sâu đậm xúc cảm của người và cảnh trong buổi phân li ấy. Bằng tài năng văn chương của mình, ngay từ những câu thơ đầu, nhà thơ Tố Hữu đã phác họa thành công tấm chân tình của quân và dân trong những ngày chiến tranh đầy gian khó mà oanh liệt.

Bài 2: Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc

Tố Hữu là lá cờ đầu của cách mạng Việt Nam các chặng đường sáng tác của ông song hành với những chặng đường lịch sử gian khổ hi sinh nhưng cũng đầy những thắng lợi vẻ vang của dân tộc. Đọc những vần thơ đầy tính chính trị nhưng ta không hề thấy khô khan, bởi thi nhân đã thổi vào đó những nhịp điệu của tâm hồn của một trái tim nhỏ bé lúc nào cũng rung lên thổn thức suy nghĩ cho vận mệnh của quê hương đất nước. Thơ Tố Hữu đậm đà bản sắc dân tộc thấm đậm những nét đẹp của quê hương đất nước để rồi Nguyễn Đình Thi đã có đánh giá sâu sắc về thơ của ông “Từ cuộc sống hiện đại thơ anh ngày càng ghét nguồn trở lại về đoạn thơ của điểm của dân tộc”. Với sự thể hiện những nét tiêu biểu nhất trong phong cách nghệ thuật thơ của mình Việt Bắc không chỉ là đỉnh cao của thơ Tố Hữu mà còn là một trong những thành công xuất sắc nhất của thơ ca thời kỳ kháng chiến chống Pháp.Thi phẩm được coi là khúc hùng ca và bản tình ca về cách mạng về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến.

3 bài văn phân tích 3 đoạn thơ của bài thơ Việt Bắc 3 bai van phan tich 3 doan tho cua bai tho Viet Bac2
Chân dung nhà thơ Tố Hữu

Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, tháng 7-1954, Hiệp định Genever về Đông Dương được kí kết. Hoà bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới. Một trang sử mới của đất nước được mở ra. Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ cân cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô. Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc. Bài thơ có hai phần: phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến, phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ngợi ca công ơn của Đảng, Bác Hồ đối với dân tộc.

Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi.
Áo chàm đưa buổi phân ly
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Thông qua cuộc đối đáp có tính chất tưởng tượng giữa đồng bào Việt Bắc và người cán bộ kháng chiến về xuôi mà thực chất là lời độc thoại nội tâm của chính tác giả như thể người yêu đưa tiến người yêu đầy lưu luyến, vấn vương, Tố Hữu đã tái hiện được bức tranh khung cảnh và tình cảm gắn bó ân tình giữa miền ngược và miền xuôi, giữa nhân dân với cách mạng.

Đoạn thơ được viết theo thể thơ lục bát với giọng thơ ngọt ngào, tha thiết diễn tả sâu sắc nỗi nhớ của người đi với Việt Bắc. 2 câu đầu là khái quát nỗi nhớ, 8 câu tiếp là bức tranh thiên nhiên và con người Việt Bắc trong nỗi nhớ của người ra đi. Có thể coi 8 câu thơ này là bức tranh tứ bình đặc sắc của núi rừng Việt Bắc. Tuy nhiên khác với bộ tranh tứ bình truyền thống tả cảnh theo trình tự xuân – hạ – thu – đông, bốn mùa Việt Bắc hiện ra trong 2 thời điểm quá khứ và hiện tại. Hai câu thơ đầu trong bài thơ Việt Bắc

“Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người”

Lời hỏi đáp của ta – người cán bộ chiến sĩ về xuôi. Ta hỏi mình có nhớ ta. Người cách mạng hỏi người Việt Bắc để bộc lộ tâm trạng của mình. Chữ “ta” và chữ “nhớ” được điệp đi điệp lại nhiều lần vừa nhấn mạnh chủ thể của nỗi nhớ vừa khẳng định tình cảm nhớ nhung đang chế ngự, tràn ngập trong tâm hồn người đi. Nỗi nhớ hướng về “những hoa cùng người” thể hiện thiên nhiên và con người Việt Bắc.
8 câu thơ tiếp theo bức tranh Việt Bắc qua hồi tưởng của nhân vật trữ tình.
Bức tranh mùa đông của Việt Bắc được Tố Hữu viết:

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

Thiên nhiên được vẽ bằng gam màu rực rỡ trên nền xanh mênh mông của rừng đại ngàn là sắc tươi của hoa chuối, ánh sáng vàng ấm áp của nắng đông. Màu đỏ tươi nổi bật vừa tạo cảm giác chói chang ấm áp, xua đi cái lạnh lẽo của núi rừng mùa đông. Sự phối hợp khéo léo giữa ánh sáng và màu sắc khiến cho bức tranh càng ấm áp và đầy sức sống. Người đi rừng hiện lên qua hình ảnh “dao gài thắt lưng” người Việt Bắc khi lao động thường đeo dao ở thắt lưng khi lên đỉnh đèo ánh nắng chiếu vào tạo lên sự phản quang của ánh nắng trên nước thép sáng loáng của con dao người đi rừng. Tư thế khỏe khoắn vững chắc, tự tin làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc sống. Câu thơ là một phát hiện của Tố Hữu về vẻ đẹp của con người thời đại mới dưới ánh sáng của Đảng. Dù lao động hay chiến đấu đều mang một tư thế hùng vĩ, hiên ngang.

“ Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

Mùa xuân tràn ngập màu trắng của hoa mơ, gợi sự dịu dàng, tinh khiết, thanh bạch mơ mộng của tạo vật. Hai tiếng “trắng rừng” như làm cho khắp núi rừng bừng sáng hẳn lên. Từ “trắng” chỉ màu sắc được tác giả sử dụng như một động từ. Con người được miêu tả trong việc đan nón cần mẫn, dịu dàng. Động từ “chuốt” kết hợp với trợ từ “từng” thể hiện bàn tay khéo léo, tỉ mỉ, tài hoa của người lao động. Đó cũng là những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam hào hùng nhưng cũng rất hào hoa.
Tiếp theo Tố Hữu tiếp tục vẽ lên vào bộ tứ bình của Việt Bắc là mùa hạ:

“Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình”

Ở bức tranh này, Tố Hữu đã miêu tả thiên nhiên rộn rã âm thanh, rực rỡ sắc màu. Tiếng ve dấu hiệu đặc trưng của mùa hè đã tới, gợi ra cái náo nức của thời gian. Mùa hè của Việt Bắc không chỉ ấn tượng bởi tiếng ve mà còn bởi sắc màu vàng rực rỡ của rừng phách. Phách là một loại cây thân gỗ ở Việt Bắc, loại cây này nở hoa vào mùa hè, trước khi nở hoa cả rừng cây đồng loạt thay lá, từ màu xanh chuyển sang vàng chỉ vài ngày.

Thực tế màu vàng của rừng phách và âm thanh rộn rã của tiếng ve là 2 hiện tượng thiên nhiên xuất hiện trong cuộc sống vào mùa hè, hoàn toàn không có quan hệ gì với nhau. Câu thơ của Tố Hữu đã đem đến cho chúng ta 1 thế giới quan kì diệu: tiếng ve kêu đã khiến cho rừng phách đồng loạt đổ sang màu vàng rữ rỡ. Cũng có thể hiểu chính những màu sắc kiêu sa, rực rỡ của rừng phách mà bầy ve rừng không thể cản lòng, phải náo nức cất lên tiếng gọi hè về. Trong câu thơ động từ “ đổ” dùng độc đáo miêu tả sự vàng lên đột ngột, nhanh chóng của rừng phách khi vào hè, gợi cảm giác như tan chảy dưới ánh nắng mặt trời – một vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên đất trời Việt Bắc khi hè sang.

Hình ảnh con người hiện lên trên cảnh ấy cũng rất cụ thể “cô em hái măng một mình”. Cách gọi thân thương, trìu mến, khắc sâu nỗi nhớ thương của con người cách mạng về xuôi với người dân Việt Bắc. Động từ “hái măng” gợi dáng vẻ chăm chỉ, cần mẫn. Từ “một mình” không gợi sự cô đơn lẻ loi mà gợi sự chịu thương chịu khó, hăng say lao động góp phần phục vụ đất nước. Bức tranh mùa thu:

“Rừng thu trăng soi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

Bức tranh mùa thu được khắc họa trong gam màu dịu mát của ánh trăng thanh bình, cả không gian núi rừng ngập tràn ánh trăng, ánh trăng tự do, ánh trăng hòa bình soi rọi. Từ “rọi” là động từ được sử dụng độc đáo, miêu tả ánh sáng tập trung chiếu xuống một điểm hẹp trong không gian. Cách dùng từ này không chỉ giúp nhà thơ miêu tả chính xác ánh trăng lọt qua vòm cây kẽ lá của núi rừng mà còn thể hiện tinh tế những cảm xúc con người: trăng rọi lên cảnh vật, rọi vào tâm hồn nhớ thương của con người trước giây phút chia ly.
Nếu ở bức tranh mùa xuân, hạ, thu, đông nhà thơ hướng nỗi nhớ tới những người lao động cụ thể: người đi rừng, người đan nón, người hái măng, thì ở bức tranh cuối trong bộ tứ bình Việt Bắc: “nhớ ai” nhớ tất cả mọi người dân Việt Bắc, những con người tuy nghèo khó nhưng giàu tình cảm, tình nghĩa thủy chung đã hi sinh quên mình vì cách mạng và kháng chiến.

3 bài văn phân tích 3 đoạn thơ của bài thơ Việt Bắc 3 bai van phan tich 3 doan tho cua bai tho Viet Bac4

Mô tả tiếng hát “ân tình” của người ở lại người ra đi như muốn gửi đến người ở lại một thông điệp: những thay đổi trong cuộc sống hòa bình sẽ không bao giờ có thể làm người đi thay lòng đổi dạ. Nhắc nhở người ra đi không bao giờ quên quá khứ nghĩa tình suốt 15 năm gắn bó. Tố Hữu gợi ca tình nghĩa cách mạng của người cán bộ cách mạng về xuôi với nội dung Việt Bắc. Những tình cảm ấy hòa nhập và tiếp nối mạch nguồn tình cảm yêu nước, đạo lý ân tình thủy chung vốn là truyền thống sâu bền của dân tộc. Thể thơ lục bát truyền thống đã được vận dụng tài tình trong bài thơ, vừa tạo âm hưởng thống nhất mà lại biến hóa đa dạng. Với kết cấu đối đáp trong ca dao dân ca được vận dụng tài tình, giọng thơ ngọt ngào tâm tình, cách xưng hô mình ta quen thuộc trong ca dao khiến bài thơ như một bản tình ca về lòng thủy chung son sắt của người cách mạng và người Việt Bắc.

Có thể nói đây là đoạn thơ hay nhất và có giá trị nhất trong bài thơ Việt Bắc. Cảnh thiên nhiên ở đây được miêu tả hết sức tuyệt vời và tươi đẹp, tràn ngập sức sống. Và giọng thơ thì ngọt ngào tâm tình khiến bài thơ như một bản tình ca về lòng thủy chung son sắt của người cách mạng với người dân và quê hương Việt Bắc.

Bài 3: Phân tích 12 câu thơ tiếp theo trong bài thơ Việt Bắc

Có người từng nhận xét thơ Tố Hữu: “Thơ của chàng thanh niên Tố Hữu khi ấy từ trái tim vọt ra cũng như thơ của chúng tôi, cũng lãng mạn như thể chúng tôi, nhưng là thứ lãng mạn khác, có nhiều máu huyết hơn; thơ chúng tôi chỉ đập cho mở cửa trời, nhưng thơ Tố Hữu thì mới có chìa khóa: Cách mạng, giải phóng dân tộc, giải phóng cho người lao khổ”. Cuộc đời Tố Hữu là cuộc đời dân tộc, lẽ sống Tố Hữu là lẽ sống của đồng bào. Câu thơ Tố Hữu cũng thế, câu thơ của những cuộc kháng chiến:

“Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”

Tháng 7 năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp quay trở lại nước ta đã kết thúc thắng lợi. Hòa bình được lặp lại, nửa đất nước được giải phóng. Tháng 10 năm 1954, Hà Nội được giải phóng, trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô. “Việt Bắc” là bản trường ca đầy ân tình – tình quê hương, tình đất nước, nghĩa tình giữa con người. Vì thế bài thơ là một bản tổng kết lịch sử bằng tâm tình. Những câu thơ đầu là khúc dạo đầu của bản trường ca, tái hiện lại những ngày tháng gian khổ khó khăn mà thấm đượm ân tình, ân nghĩa:

“Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”

Đoạn thơ là một loạt những câu hỏi được điệp lại: “Mình đi, có nhớ…”, “mình về, có nhớ…” như lời nhắc nhở nhẹ nhàng, ân tình. Cách xưng hô “mình – ta” cùng với kết cấu đối đáp quen thuộc gợi nhớ về lối đối đáp quen thuộc trong những câu hát giao duyên, những điệu hát huê tình của chàng trai và cô gái, giữa mận và đào, của mai và trúc.

Sau này, hình ảnh mưa ấy cũng vào trong trang thơ của Phạm Tiến Duật, trên con đường tiến tới lí tưởng: “Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời”. Hơn nữa, lại thêm “những mây cùng mù”- trên mây, dưới mù gợi lên cái gì hoang vu, u lạnh của một vùng thâm sơn cùng cốc nào đó. Biện pháp đối lập: “Miếng cơm chấm muối” – “mối thù nặng vai” không chỉ nói lên những gian khổ khó khăn mà con người ở đây phải gánh chịu mà qua đó còn khẳng định lòng quyết tâm chiến đấu, chiến thắng của con người. Điều kiện càng khó khăn, gian khổ càng nhắc nhở con người về mối thù không còn vô hình mà đã hữu hình, có sức nặng và cảm nhận được.

Cuối cùng là lời trao gửi của người ở lại để nhắc nhớ về hành trình kháng chiến của toàn dân tộc với những chặng đường đáng nhớ:

“Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”

Trong câu hỏi cuối: có đến ba từ “mình”. “Mình” thứ nhất và thứ hai để chỉ người ra đi. Vậy còn từ “Mình” thứ ba? Vẫn là người ra đi? Hay đó là người ở lại? Không thể phân biệt được! Có lẽ là cả hai. Mình và ta giờ đã không còn phân biệt được nữa rồi. Mình là ta, ta và mình hòa quyện trong nhau, cùng sống, cùng lí tưởng, cùng chiến đấu để cùng tận hưởng niềm vui chiến thắng. Những tình cảm đó, sẽ là “ta” đi theo mình đến mọi chặng đường, dù khi ấy “mình” có đi đâu chăng nữa.

Nếu nói văn học chính là “tấm gương lớn di chuyển trên đường cái”, là “phong vũ biểu của thời đại” thì “Việt Bắc” của Tố Hữu chính là tác phẩm như thế. Nó đã làm trọn trách nhiệm của mình, của văn học: phục vụ cách mạng, cổ vũ chiến đấu.

3 bài văn phân tích 3 đoạn thơ của bài thơ Việt Bắc 3 bai van phan tich 3 doan tho cua bai tho Viet Bac5

Xin mượn lời của nhà thơ Chế Lan Viên thay cho lời kết: “Thơ Tố Hữu là thơ một con người biết trân trọng lấy đời mình, muốn làm cho đời mình trở nên hữu ích. Vậy thì ai kia còn phung phí đời mình, làm gì cũng được, sống sao cũng xong, trong khi đọc thơ này hãy bắt đầu thử dừng lại mà biết quý lấy đời mình, mà đem xây dựng nó.”

Nếu bạn muốn biết thêm nhiều bài phân tích tác phẩm văn học hay hơn nữa có thể Bạn đọc – Topmeta để có thêm nhiều gợi ý hay hơn nữa nhé .

5/5 - (1 bình chọn)

Topmeta.vn
Logo